Tản mạn về màu tím hoa sim

Khác với nhiều bài thơ khiến nhân gian sướt mướt ướt hàng tấn khăn tay rốt cuộc chỉ là chuyện mơ màng tình ái. Nhưng “Màu tím hoa sim” là chuyện thật, có sinh ly tử biệt của một người vì vậy là bâng khuâng của nhiều người.

Màu tím hoa sim ở miền Nam

Ai đã một lần nhìn thấy hoa sim, không quên hoa. Nó xinh và nở dễ dàng. Hàng giậu, triền đá, nương rẫy, bờ sông, nhà ga, bến đò… Tím từ Lai Châu tím qua, tím từ Kontum tím lại. Cánh hoa đơn, rất mỏng. Gió tạt ngang, hoa lung lay. Nhuỵ vàng nhuỵ tím vươn lên như tóc cô tiên. Dưới nắng màu hoa long lanh. Hoa trong “Màu tím hoa sim” là hoa mua hay hoa sim, màu tím đỏ hay tím Huế, tím cà hay tím hồng? Màu nào cũng biêng biếc đẹp. Với Hữu Loan, màu hoa trong thơ là màu của “ngày xưa, nàng thích màu hoa sim tím”.

Từ 1957, chương trình thi văn của ban Tao Đàn trình bày bài thơ nhiều lần trên đài phát thanh Saigon. Giọng Huế Tô Kiều Ngân u hoài, bi nhưng không thảm, sầu nhưng không luỵ. Thật tiếc, sau ông, không có giọng nào gần bằng.

Có thể ở một dân tộc khác, một hoàn cảnh khác, một thế hệ khác, người ta không yêu bài thơ ấy đến thế. Năm 1954, đất nước vừa chia đôi. Người Bắc di cư tưởng chỉ mang theo vài tay nải may quàng. Có ngờ đâu, trong ấy cả thơ nhạc ca dao, cả văn hoá sông Hồng. Dù ông lão nhà quê hay thiếu nữ thành thị, cái nết của người Bắc là quyến luyến với tất cả những gì mang hơi hướng quê hương ấy.

Từ lịch sử và cả văn chương, ký ức của người Việt, nhất là người miền Bắc – “những người mang mệnh biệt ly” – vẫn còn phủ đầy bóng tối của chia lìa. Từ nữ sĩ Đoàn Thị Điểm:

“Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng.
Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau”
(Chinh phụ ngâm)

đến “Hòn vọng phu”:

“Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn.
Vui ca lên rồi đi tiễn binh ngoài ngàn” [1]

Chiến tranh lúc nào cũng ngồi chờ ở bực cửa. Trong lòng chứa ba bốn năm điều trôi giạt, chưa kịp hoàn hồn, năm 1954 lại thêm sáu bảy mối phân ly. Từ Phạm Duy:

“Giờ em ơi, giờ em ơi.
Mây trùng dương cách chia” [2]

đến Đan Thọ (thơ Đinh Hùng):

“Đàn ơi nhắn dùm người đi phương nao.
Nếp chinh bào biếc ánh sao” [3]

Cứ đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng thì biết, khúc chinh phu-chinh phụ bao giờ cũng là bản song tấu ngẩn ngơ nhất. Vì vậy, tuy không biết mặt mũi hoa sim thế nào, màu tím xuất hiện trong lưu bút nữ sinh. Các cô gái nhỏ mới lớn, mơ màng hoa sim cài tóc “Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo”. Các nàng cũng không nề hà “Tôi ở đơn vị về, cưới nhau xong là đi”. Vì vừa vặn thời gian ấy, khoảng 1963, chiến tranh bắt đầu khốc liệt, các lứa đôi không có lựa chọn khác.

Hoa sim đồi Vọng Cảnh, Huế [4] Trong Nam, “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Hình như ông Kiên Giang Hà Huy Hà chỉ làm một bài này, nhưng cũng đủ làm thế hệ nam sinh nữ sinh những năm 60 yêu nhau, yêu màu tím, và coi tình yêu dở dang mới là tình yêu không… dang dở:

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

Khuynh hướng này dường như vẫn theo đuổi thơ nhạc sát nút đến tận bây giờ.

Giới mê tuồng cải lương biết đến hoa sim qua sơn nữ Phà Ca Thanh Nga. Cô mặc áo chẽn cài khuy bạc, phá (váy) sọc màu xanh lục, tóc bới cao cài hoa sim, tay đeo vòng bạc leng keng, lưng mang gùi. Cô hé đôi môi đẹp như trái sim ca mùi rệu “Đói lòng ăn nửa trái sim. Uống lưng bát nước đi tìm người thương”. Màu sim cũng nhuộm tím mục “tìm bạn bốn phương” trong suốt gần nửa thế kỷ. Trên báo, có những lời rao làm duyên làm dáng rất… nghìn lẻ một đêm tổng hợp lỉnh kỉnh “thiếu phụ cô đơn, 24 tuổi đời, 15 tuổi lính, mắt bồ câu con bay con đậu, mũi dọc dừa, môi trái tim… hơi mẻ, buồn nhiều hơn vui, yêu nhạc tiền chiến, thích màu tím hoa sim, đang đi tìm khúc xương của đời mình, nếu hợp sẽ… trèo qua vòng lễ giáo…” Phong trào “yêu màu tím” linh đình đến thành sáo rỗng/vô nghĩa. Đến nỗi trong bài “Ngàn thu áo tím” [5] , nàng sụt sùi méc thính giả rằng bị chàng hạ một câu quyết liệt “Từ khi yêu anh, anh bắt xa màu tím”. Có thể anh sợ màu tím xui xẻo, hoặc anh điên tiết vì em không biết hoa sim ra sao, tối ngày tím tiếc sốt cả ruột gan. Dẫu vậy, mối tình cũng không khá, “Thế thôi tàn giấc mơ”, đủ hiểu màu tím không ăn thua gì tới chuyện tình buồn hay chuyện tình vui. Hoa sim không hàn gắn mối tình của đôi trẻ hay làm rã rượi mối tình của đôi già.

Nhưng với những người lính xa nhà, thơ nhạc cải lương thật sự là nương tưạ duy nhất. Trong cơn bồn chồn không biết có còn sống sót cho đến ngày về phép hiếm hoi, người lính mượn làn điệu êm ái gột rửa bớt cái tàn nhẫn của chiến tranh. Họ hát “Người đi khu chiến thương người hậu phương. Thương màu áo gởi ra sa trường” [6] làm như không phải họ đang kề cận bom mìn.

Họ mường tượng cả đến điều bất hạnh nhất như trong thơ Hữu Loan “Lỡ khi mình không về, thì thương người vợ chờ, bé bỏng chiều quê”. Toàn bài “Màu tím hoa sim”, hay nhất chữ “lỡ” ấy. Chữ “lỡ” xoá tan mọi ranh giới trong cơn bão cuồng quay của súng đạn vô tình, và hứa hẹn những duyên tình ở kiếp sau. Ừ, không về! Rồi sao! Người lính tập rùn vai, ra vẻ bất cần. “Những người chinh chiến bấy lâu. Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây” (Chinh phụ ngâm). Cuối cùng, khi mảnh kim khí như vết cắt nghiệt ngã xoáy toang bức tranh rực lửa, thì màu tím hoa sim là một gam màu nâng thân thể lên cao rồi đỡ rất êm khiến cái chết dịu dàng và đỡ lẻ loi. Nếu không như thế, ít ra cũng tin như thế.

Hoa sim năm 2007

Tàn cuộc binh đao. Đầu ai rồi chẳng bạc. Tóc Hữu Loan bạc trắng từ lâu. Cuối đời, bốn phương ân cần gửi vọng về ông ngàn vạn hoa sim. Ông không đến nỗi bất hạnh như nhà thơ Đỗ Phủ, suốt đời làm “Con thuyền ngọn gió chia phôi. Bạc đầu sóng bạc đầu người ra đi” [7] . Hữu Loan đã thành một… bụi lão sim, cùng với người vợ tảo tần, ông có 10 con 40 cháu. Hoa sim của Hữu Loan làm tròn bổn phận, đã đến lúc nhân gian cho hoa yên nghỉ, như ông cũng nói “Mọi chuyện đã qua”.

Người yêu hoa nên giở một trang khác cho hoa sim.

Theo trang “Bách thảo trong thi ca” của nhóm Huệ Diệp Chi [8] :

Tên Việt: sim
Tên Hoa: đào kim nương
Tên Anh: rose myrtle, downy myrtle, Isenberg bush
Tên Pháp: myrte-groseille, feijoarte-groseille, feijoa
Tên khoa học: Rhodomyrtus tomentosa Wight.
Họ: Sim (Myrtaceae) anh em con dì con già con chú con bác có tới 3000 loại khác nhau.

Khi giáo sư Phạm Hoàng Hộ bước vào, mơ màng bước ra. Theo ông, có hai loại sim: hồng sim, hoa màu đỏ tươi, mọc ở rừng còi, thưa ở độ cao 10-1500m, lá dùng nhuộm đen, rửa vết loét, trị tiêu chảy; tiểu sim, hoa trắng, phân bố từ rừng Hòn Gai đến Phú Quốc, rễ, lá trị đau bao tử, phụ nữ sau khi sanh. Theo tiến sĩ H. T. Hoà, ở Phú Quốc gọi hồng sim là “sim bà”, và tiểu sim là “sim ông”. Lạ thật, nội tên hoa sim cũng có ý thiên vị, cho bà đẹp hơn ông. Trong một bức ảnh rất hiếm có của Viện Đại học Cần Thơ, cho thấy màu “đỏ tươi” của hồng sim thật ra có sắc hồng đậm, hơi lả lơi nghiêng về màu hoa cà. Trong bức ảnh độc đáo này, nàng hồng sim và chàng tiểu sim cùng mọc trên một cành [9] . Hoa tươi trên đá xám. Một loại nhị nguyên nương nhau, đẩy nhau, cho vẻ đẹp hoang sơ rất lạ.

Hoa mua, em ở đâu?

Cả cây sim và cây mua cùng thuộc bộ Myrtales, cũng là bộ sim, chỉ khác họ. Một người bạn gửi cho ảnh hoa tím chụp trên dãy Hoàng Liên Sơn, giống in hệt hoa mua bên dãy Trường Sơn, dù theo cậu dẫn đường người Giáy, người Sapa gọi là hoa sim.

Rầy rà thật! Thôi thì cây sim cho hoa sim, cây mua cho… hoa mua. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ gọi cây mua là Muôi Đa Hùng, tên khoa học: Melastoma affine, họ Melastomataceae, 200 chi và 4.500 loài. Trong ký ức một người bạn sơn nữ, sim và mua ở Bảo Lộc mọc chen nhau trên đồi, giữa kẽ đá, ven đường mòn ra suối. Chủ nhân đồi chè (trà) để sim và mua mọc tự nhiên, vừa đỡ sói đất, vừa là dấu hiệu cho hay nơi nào sim, mua mọc nhiều, đất ấy trồng chè rất tốt. Hoa sim, hoa mua mọc chen nhau ở các tầng khí hậu. Từ Đông Nam Á qua Nhật, Trung Hoa, Úc, Hoa Kỳ và cả Phi châu.

Gần nơi tôi ở, có hoa Tibouchina màu tím Huế, cũng thuộc họ mua, Melastoma. Chỉ tiếc Tibouchina không có quả ăn thử. Định mua về trồng, ra điều lãng mạn còm, tình cờ vớ được chi tiết này, xin ghi ngay “lỡ” lọt vào mắt ai xanh, hứng chí làm thí nghiệm xem dược tính của loại mua này thế nào. “Lỡ” may có ích cho bà con mình: “Tại địa phương, cả bụi Tibouchina dùng làm thuốc cầm máu, hay thuốc giải độc. (The entire bush is used in local medicine to treat poisoning and to stop bleeding” – Toptropicals).

Hoa mua [10] Nhớ ai, hoa mua bé mọn!

Trong làng khoa học và văn hoá Việt, còn một bông hoa mua lạ lùng lắm. Ông Nguyễn Từ Chi viết “Trong làng viết xâm thực ấy, giữa đá nhọn và cỏ ống, cùng vài cây bút hiếm hoi khác, nép mình như những khóm hoa mua…” [11] Bông hoa mua nép mình ấy là Jeanne Cuisinier. Cô cử nhân trẻ trung bỏ nước Pháp sau lưng, dấn thân nơi núi rừngViệt Bắc, nơi cô điền dã suốt 15 năm nơi các làng bản người Mường, soạn hai bộ sách. Bộ mà ông Từ Chi gọi là hoa mua bé mọn vì chỉ dày 140 trang, La Danse Sacrée en Indochine et en Indonésia [Múa thiêng ở Đông Dương và Indonesia]. Bộ kia đồ sộ hơn, Les Mương, Geographie Humaine et Sociologie [Người Mường, địa lý nhân văn và xã hội học], Université de Paris, 1946, dày 622 trang; đã có bản dịch tiếng Việt. Cả hai là những bộ sách đầu tiên về người Mường, nửa kia của cuộc hôn nhân dị chủng Lạc Long Quân với Âu Cơ. Âu Cơ, biểu hiệu là con hươu đốm sao, tiên nữ trong truyền thuyết Hồng Bàng, thái quốc mẫu bị bỏ quên, vì sử sách và lòng người không hiểu sao chỉ nhắc đến rồng, Lạc Long Quân, mà không hề biết đến “tiên” là ai, hạ lạc nơi nào. Con hươu sao ngơ ngác một mình dẫn đàn con lắt nhắt 50 đứa đi về đâu? Đồ ăn thức uống có đủ chăng? Núi rừng có chứa mẹ con bé bỏng? Lòng vả có tựa lòng sung nhớ đến lang quân họ Lạc cùng 50 đứa con kia? Lạc Long Quân có bao giờ “đi tìm người thương”? Chẳng lẽ ở với nhau có đến trăm con mà sao lạnh lùng làm vậy! Thiệt vô tình hết biết! Dù lúc nào trưởng thượng, cũng nhắc nhở nhi đồng “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Thiệt ngộ!

Chỉ mình Jeanne là người đầu tiên nhớ đến hươu sao Âu Cơ. Sơn nữ, nhà sàn, cơm lam, vòng bạc, nương chiều… Có ai cùng nghiêng mình thoảng nhớ tới bông hoa mua bé nhỏ Jeanne Cuisinier không nào?

Rượu sim

Năm 2007, sim coi bộ… tiến bộ hơn, không than thở lỗi hẹn kiếp này chờ nhau kiếp khác. Sim lắc lư nhảy tót vào trong rượu. Trước nay sim ở Phú Quốc mọc hoang rất… vô tư. Cho đến một hôm, vài du khách từ Đắc Lắc ra thăm đảo mới tận tình chỉ cho bà con Phú Quốc cách đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên đã biết làm rượu sim trị các chứng nhức mỏi, đau khớp chống khí hậu núi rừng [12] . Cái này hay! Hơn là ôm một chùm sim tím lịm khóc than đau cả lưng.

Không rõ rượu sim Phú Quốc uống với ly nào, chân dài hay chân thấp hay đong trong mắt thuyền của giai nhân (lại cứ phải có giai nhân mới uống được rượu, trời ạ!). Uống lạnh như rượu vang hay uống ấm như rượu saké? Màu rượu tím, hồng hay đỏ? Có cần vĩ cầm réo rắt cho ai kia nâng chén? Dẹp! Không cần những thứ lãng mạng còm xưa như trái núi ấy. Sao cũng được. Miễn có sản phẩm ngon-đẹp-rẻ và đúng tiêu chuẩn quốc tế, không uổng đất, lại vẫn giữ đựơc màu sắc núi rừng.

Cứ mở vài trang web về rượu ở California [13] từ Nava Valley, Sonoma, Temecula đến Santa Barbara, kỹ nghệ làm rượu tới bến, đến nỗi mới năm ngoái, một chai nho đỏ, màu đẹp như môi, mùi thơm như tóc, vị rất dịu, không biết uống cũng yêu, giá lẻ ở Trader Joe’s 1.99 đô la thay vì cứa cổ hàng trăm đô la 1 chai như hồi mấy ông Tây quý tộc còn mặc quần thủng tứ tung.

Phú Quốc có nhiều màn bắt mắt khách du lịch, họ đã quá chán ngán đô thị bê tông cốt sắt, toà nhà cao ngất xỉu che chắn núi rừng sông biển. Họ chỉ muốn tìm thiên nhiên, hoang dại chừng nào tốt chừng ấy. Phú Quốc có thể hơn cả Hawaii [14] và Bali. Ủa, đâu phải hải đảo nào cũng có từng ấy thứ: hoa lan, trượt sóng, đua thuyền buồm, mái lá, thịt rừng nướng, vỏ ốc, hạt trai, nữ trang dừa [15] , trầm hương/kỳ nam, rừng nguyên sinh, di tích lịch sử thời Gia Long tẩu quốc, rong ruổi xe ngựa [16] ngắm đồi sim, vũ khúc Sim Tây Nguyên bên đống lửa rừng! Chắc chạy lên vùng Banar kiếm Đinh Y Chương học múa, chàng chỉ liền một khi. Nhớ cho sơn nữ ăn mặc in hệt người Banar nguyên thuỷ, hoang sơ và ngây thơ, cho các nàng áo tứ thân xanh đỏ là lạc quẻ chết người. Hoa sim có thể đựoc chọn làm “chữ ký” của đảo. Chúc hoa sim Phú Quốc may mắn.

Sim Tây Nguyên khóc hay cười

Người Tây Nguyên yêu hoa cách khác. Đinh Y Chương [17] người Banar ở làng Kon Blo sáng tác bài “Hoa sim” (Pơ kao lơ ngữm):

“Lơ ngữm brưt pơ kao hluôi rang
Bũng lang brưt pơ kao hluôi keh
Pơ kao kơ đeh in ya liêm hech
Pơ kao Wech in ya liêm loi,
Wa phe, inh kli pơ kao… yôp jăm

Tạm dịch:

Tim tím mùa hoa sim
Tim tím cánh hoa mùa
Hoa nào thấy cũng đẹp
Đọng mãi trong ánh mắt
Muốn hái nhưng sợ hoa… cười”

Về khoản này, có lẽ người “thiểu số” Tây Nguyên dân chủ và hồn nhiên hơn… chúng mình hai đứa: thơ vẫn làm, rượu vẫn ủ, thú vẫn săn, hoa nào cũng đẹp. Để yên trên cành cho hoa tươi mãi, chớ có hái, sợ hoa… cười. Yêu đời và yêu hoa thế là cùng!

Vì hoàn cảnh của lịch sử, đã có một thời để yêu hoa và một thời để khóc. Chắc đã đến lúc vẫn yêu hoa, nhưng đừng khóc nữa. Khóc mãi sợ hoa cười.

Tháng 6.2007, California

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked *

clear formPost comment